banner

Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An 

Thành lập: Ngày 28/02/1979

Sân vận động: Vinh (Sức chứa 18.000 chỗ ngồi)

Chủ tịch: Trương Sỹ Bá

Giám đốc điều hành: Trương Mạnh Linh

HLV trưởng: Nguyễn Huy Hoàng

Giải đấu: V.League 1

Địa chỉ: Số 6, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. 

 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

  • Năm 1973: Đội bóng đá Ban chấp hành quân sự tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập. Đội bóng này được coi là tiền thân của Đoàn bóng đá SLNA ngày nay.
  • Từ năm 1973 cho đến năm 1979, đội thi đấu ở hạng B quốc gia.
  • Mùa giải năm 1978-1979: Đội được thăng hạng từ hạng B lên hạng A2.
  • Ngày 28 tháng 2 năm 1979, Đội bóng đá Ban chấp hành quân sự tỉnh chính thức được Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh quyết định đổi tên thành Đội bóng đá Sông Lam.
  • Năm 1980: HLV Nguyễn Thành Vinh bắt đầu nắm đội 1 của Nghệ An. Ông đã đóng góp nhiều nhiệt huyết cho đội nhà và mang lại một lối đá đặc trưng cho Sông Lam trong thời gian gần đây.
  • Năm 1988: Đội bóng đá Sông Lam Nghệ Tĩnh được chuyển về ngành Thể dục Thể thao quản lý, điều hành.
  • Năm 1984: Đội được thăng hạng A1, hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu giải quốc gia lúc bấy giờ cùng các đội CATPHCM và CAHP, CATH. Từ năm 1984 đến nay, đội luôn có mặt trong hạng đấu cao nhất của bóng đá nước nhà.
  • Năm 1984 cũng ghi nhận một sự kiện đáng ghi nhớ, đó là lễ đón đội thi đấu lên hạng thành công. 
  • Năm 1989: Trong giải thi đấu chuyển hạng (chuyển hạng A1 thành hạng đội mạnh), Sông Lam Nghệ Tĩnh đã thi đấu xuất sắc, đứng đầu bảng B nên được đặc cách lên hạng đội mạnh (đội đầu tiên được chuyển hạng).
  • Trong mùa giải này, Sông Lam Nghệ Tĩnh không phải thi đấu giai đoạn 2 nên được cử làm Đại diện cho Việt Nam đi dự giải bóng đá ba nước Đông Dương tại CHDCND Lào và đoạt Huy chương Bạc.
  • Từ 1989-1990: Đội hai lần đạt giải vô địch giải bóng đá Thủ đô, một lần đạt giải Nhì giải bóng đá các đội phía Bắc.
  • Năm 1991: Truyền thống quật cường của SLNA được thể hiện ở trận quyết định đến khả năng trụ hạng của Sông Lam Nghệ Tĩnh là trận đấu với Long An tại sân Nha Trang. Giành chiến thắng trong loạt luân lưu, đội bóng trụ hạng thành công.
  • Năm 1992: Nghệ Tĩnh được tách thành hai tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh. Sông Lam Nghệ Tĩnh được đổi tên thành SLNA. Tuy nhiên, trên thực tế Sông Lam Nghệ Tĩnh vẫn được coi là “Niềm tự hào của người dân xứ Nghệ” gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh.
  • Trong năm này, UBND tỉnh Nghệ An cũng đã có một quyết định quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi của bóng đá Nghệ An, đó là việc cho phép Đội bóng đá Sông Lam được hạch toán độc lập, có con dấu, tài khoản riêng.
  • Ngay trong năm đầu tiên hoạt động theo mô hình mới, đội đã đoạt HCĐ giải vô địch đội mạnh toàn quốc.
  • Năm 1994: Ngày 21 tháng 3 năm 1994, UBND tỉnh có Quyết định 224, đổi tên Đội bóng đá SLNA thành Đoàn bóng đá Sông Lam – một đơn vị sự nghiệp thuộc ngành Thể dục Thể thao.
  • Năm 1995:
  • Năm này SLNA cũng đã đóng góp cho ĐTQG cầu thủ Nguyễn Hữu Thắng, thi đấu xuất sắc giành Huy chương Bạc SEA Games 18.
  • Năm 1996: Bóng đá Việt Nam có bước chuyển lớn với việc đổi tuyển quốc gia đạt Huy chương bạc SEA Games 18 tại Thái Lan. Giải vô địch quốc gia Việt Nam được người hâm mộ chú ý hơn với các trận đấu bắt đầu được truyền hình trực tiếp trên VTV. Các giải bóng đá trẻ cũng được tổ chức thành hệ thống. Trong mùa bóng này, SLNA cũng bắt đầu ghi tên mình vào hàng ngũ các đội bóng xuất sắc của Việt Nam. Đội hình một và các đội trẻ của đội đã có những thành công bước đầu:

– Đội 1 SLNA: thi đấu xuất sắc và đoạt HCĐ giải vô địch quốc gia, Huy chương đồng Cúp quốc gia.

– Đội U11 SLNA: Đội nhi đồng Nghệ An cũng đạt Huy chương đồng giải U11 quốc gia ngay trong lần đầu tiên tham dự.

 

THÀNH TÍCH VÀ NHỮNG KỶ LỤC Đội 1 (Đội ngoại hạng ngày nay)

  • Năm 1979: Lên hạng A2 toàn quốc.
  • Năm 1984: Lên hạng A1 toàn quốc (hạng cao nhất lúc đó).
  • Năm 1989: Phân hạng lên đội mạnh, đội được lên hạng đội mạnh.
  • Năm 1992: Hạng 3 giải VĐQG.
  • Năm 1996: Hạng 3 Dunhill Cup, Cup quốc gia và giải VĐQG.
  • Năm 1997: Vô địch Giải bóng đá trong nhà; hạng 7 giải VĐBĐ trong nhà Thế giới tại Singapore; Vô địch Cúp bóng đá Nhà Vua Thái Lan mở rộng.
  • Năm 1998: Hạng nhì Giải VĐQG; hạng 3 Cúp quốc gia; Vô địch Dunhill Cup; Vô địch Giải bóng đá trong nhà.
  • Năm 1999: Vô địch Giải bóng đá mùa Xuân (không có giải VĐQG); vô địch Dunhill Cup.
  • Năm 2000: Vô địch Giải bóng đá Vô địch quốc gia chuyên nghiệp; đoạt Siêu Cup Quốc gia; tham dự Cúp C1 Châu Á.
  • Năm 2001: Vô địch Cúp Quốc gia; Vô địch giải bóng đá vô địch quốc gia chuyên nghiệp; đoạt Siêu Cúp Quốc gia.
  • Năm 2002: Vô địch Cúp Quốc gia; Hạng 3 giải VĐQG chuyên nghiệp; đoạt Siêu Cup Quốc gia; vô địch Đội hình 2 Giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2003: Hạng 5 giải VĐQG chuyên nghiệp; Vô địch Cúp Hà Nội ACB mở rộng; Vô địch JVC Cup báo Thể thao TPHCM tại Hà Nội.
  • Năm 2004: Hạng 4 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2005: Hạng 5 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2006: Hạng 5 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2007: Hạng 7 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2008: Hạng 9 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2009: Hạng 3 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2010: Hạng 9 giải VĐQG chuyên nghiệp; Vô địch Cúp Quốc gia.
  • Năm 2011: Vô địch giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2012: Hạng 4 giải VĐQG chuyên nghiệp; Vô địch Siêu Cúp QG.
  • Năm 2013: Hạng 4 giải VĐQG chuyên nghiệp; Vô địch Siêu Cúp QG.
  • Năm 2014: Hạng 5 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2015: Hạng 7 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2016: Hạng 9 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2017: Hạng 8 giải VĐQG chuyên nghiệp; Vô địch Cúp Quốc gia.
  • Năm 2018: Hạng 4 giải VĐQG chuyên nghiệp; HCĐ Cúp Quốc gia.
  • Năm 2019: Hạng 7 giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2020: Hạng 2, nhóm B giải VĐQG chuyên nghiệp.
  • Năm 2022: Đang cập nhật…

 

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BÓNG ĐÁ TRẺ

  • Năm 1996: Huy chương đồng U11.
  • Năm 1997: Huy chương bạc U11; Huy chương bạc U14.
  • Năm 1998: Huy chương đồng U11, U18; Huy chương vàng U14, U16.
  • Năm 1999: Huy chương đồng U11, U14; Huy chương bạc U16; Huy chương vàng U18.
  • Năm 2000: Huy chương vàng U21; Huy chương đồng U11, U18.
  • Năm 2001: Huy chương vàng U21, U18.
  • Năm 2002: Huy chương vàng U21, U15; Huy chương bạc U18.
  • Năm 2003: Huy chương bạc U21.
  • Năm 2004: Huy chương đồng U21; Huy chương vàng U19; Huy chương vàng U17.
  • Năm 2005: Huy chương vàng U19; Huy chương vàng U17; Huy chương đồng U15.
  • Năm 2006: Huy chương vàng U19; Huy chương vàng U17.
  • Năm 2007: Huy chương bạc U21; Huy chương bạc U19; Huy chương vàng U17.
  • Năm 2008: Huy chương đồng U19; Huy chương vàng U17;  Huy chương bạc U15.
  • Năm 2009: Huy chương vàng U17; Huy chương đồng U11.
  • Năm 2010: Huy chương bạc U21; Huy chương bạc U17.
  • Năm 2011: Huy chương đồng U21; Huy chương bạc U19.
  • Năm 2012: Huy chương vàng U21; Huy chương đồng U19; Huy chương vàng U17.
  • Năm 2013: Huy chương đồng U21; Huy chương đồng U19; Huy chương vàng U13.
  • Năm 2014: Huy chương vàng U21; Huy chương vàng U13.
  • Năm 2015: Huy chương đồng U17; Huy chương bạc U13; Huy chương đồng U11.
  • Năm 2016: Huy chương bạc U13.
  • Năm 2017: Huy chương đồng U21; Huy chương đồng U15; Huy chương đồng U13; Huy chương vàng U11.
  • Năm 2018: Huy chương đồng U19; Huy chương bạc U17; Huy chương vàng U15; Huy chương vàng U13; Huy chương vàng U11.
  • Năm 2019: Huy chương đồng U19; Huy chương vàng U15; Huy chương vàng U13; Huy chương vàng U11.
  • Năm 2020: Huy chương bạc U21; Huy chương đồng U19; Huy chương vàng U17; Huy chương đồng U15; Huy chương vàng U13; Huy chương vàng U11.
  • Năm 2021: Huy chương vàng U9, Huy chương đồng U19.

 

DANH HIỆU TẬP THỂ

  • Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3 về thành tích 20 năm phấn đấu trưởng thành (tháng 6/1999).
  • Cờ đơn vị thi đua xuất sắc của UBND Tỉnh Nghệ An 2 năm liền 1998, 1999-2000.
  • Cờ thi đua của Chính phủ tặng đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2000-2001.
  • Cờ đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mùa giải 2000-2001 của UBND tỉnh Nghệ An.

Sân Vận Động Vinh

© 2021 - Bản quyền thuộc về | Designed by Pixco